Mấy lời
phi lộ
Khi tôi chuẩn bị đăng
bài viết, có anh bạn góp ý: Bài của anh đọc cũng được, nhưng hình
như lẫn lộn về thời gian và tuổi tác nhân vật. Để tránh lẫn lộn,
tôi thông tin về tuổi tác của một số nhân vật để các bạn tham khảo.
Cụ thể:
1.
Lão Hoành và vợ tuổi
Mậu Thân (1908)
2.
Con trai lão Hoành,
người anh tuổi Đinh Mão(1927); người em tuổi Canh Ngọ (1930)
3.
Bố tôi tuổi Canh Tuất
(1910)
4.
Tôi tuổi Đinh Dậu (1957)
Nhà lão Hoành ở ngoài bờ sông, đó
là cả một thế giới bí hiểm luôn kích thích tính tò mò của bọn
trẻ trâu chúng tôi. Rất khó có thể tiếp cận vào bên trong khi chưa được
lão cho phép. Muốn vào được nhà lão, trước hết phải vượt qua một hàng
rào trúc ken dày đặc xung quanh nhà nếu lão không chống chiếc cổng
cũng được ken bằng trúc lên. Bước chân vào lãnh địa nhà lão, đầu
tiên ta phải đối mặt với hai con Mực và Vàng. Ban ngày, Mực và Vàng
luôn tuần tra, lùng sục khắp nơi. Đêm về, Mực tự giác ra cổng trực
bảo vệ vòng ngoài còn Vàng nằm ở hiên nhà bảo vệ chủ. Chướng ngại
vật tiếp theo là khoảng gần chục con ngỗng đẻ, khi thấy động là kêu
ầm ĩ báo cho chủ biết có người lạ đột nhập. Vượt qua đàn ngỗng,
vào đến sân, ta phải đối mặt với một con cò luôn túc trực ở hiên.
Bình thường, nó khật khưỡng tuần tra dọc hiên nhà, bắt ruồi, nhặt những
hạt cơm rơi, cơm vãi. Khi có người lạ, nó lao ra đứng chặn lại, hùng
dũng y chang một người lính thực thụ.
Lão Hoành có một kho vũ khí sát
thương đáng để bọn tôi bàn luận. Đầu tiên phải kể đến là con dao găm.
Đây đích thực là vũ khí cận chiến, bởi vì lão luôn mang theo bên
người. Lưỡi dao hình lá lúa, mũi nhọn và rất sắc, dài khoảng hai
mươi phân và rất ít khi rút ra khỏi bao da. Cán dao là hai miếng sừng
trâu được ốp vào thân dao bằng hai chiếc đinh tán. Sở dĩ tôi biết rõ
về con dao găm của lão Hoành là có lý do của nó. Chuyện là thế
này: Bố tôi mặc dù kém lão Hoành mấy tuổi, nhưng lại dạy lão trong
phong trào Bình dân học vụ, nên lão kính trọng và gọi bố tôi là
thày giáo, gọi tôi là chú, xưng anh. Một hôm, tình cờ lão gặp bố con
tôi nên khẩn khoản mời vào nhà lão chơi. Lúc bố tôi và lão ngồi
uống nước ở hiên thì tôi được thỏa thích xem những vật dụng của
lão. Lúc tôi rút lưỡi dao găm ra khỏi vỏ, bố tôi nhìn thấy lưỡi dao
găm liền quay mặt đi. Lão Hoành chắc đoán được lý do vì sao nên thu
lại con dao găm trên tay tôi và xin lỗi bố tôi. Lão kê mũi dao găm vào
miệng cái cối đá rồi lấy con dao rựa chặt phăng mũi nhọn của con dao
đi và mài tròn đầu dao lại. Từ đó, con dao găm của lão nhìn đỡ sát
khí hơn, thân thiện hơn.
Vũ khí
thứ hai là chiếc nỏ. Thân nỏ bằng gỗ, được đẽo gọt cẩn thận, chỗ
rộng nhất của thân có đục lỗ để tra cánh nỏ, phía trên có rãnh dọc
thân nỏ để đặt tên, cuối rãnh tên được tạo bậc để gài dây và lẫy
nỏ để đẩy dây khi bắn. Cánh nỏ được vót bằng tre, thuôn hai đầu. Dây
nỏ nghe đâu được làm từ ruột mèo phơi khô, rất dai và bền. Mũi tên
được vót bằng tre, một đầu nhọn, đầu kia cắt bằng, gắn cánh để
định hướng. Nghe đồn nỏ của lão Hoành bắn xa trăm thước, chả biết
có đúng không?
Kho vũ
khí của lão Hoành còn một cây giáo, cán giáo bằng tre, đốt ngắn,
thẳng và dài khoảng hơn hai mét, mũi giáo được rèn từ sắt, hình
búp đa, đầu cũng nhọn hoắt. Nghe đồn cây giáo này lão mang từ miền
ngược về, song chưa ai thấy lão sử dụng vào việc gì? Lão Hoành còn
một cây đinh ba, cán bằng tre, thuôn đều, dài hơn ba mét. Đinh ba được
rèn từ sắt, gồm ba mũi, ghép thành mặt phẳng, cách nhau khoảng phân
rưỡi, dài khoảng hơn chục phân. Mũi được rèn từ sắt vuông, có ngạnh,
nhọn và sắc. Cây đinh ba này lão chủ yếu dùng để đâm cá ở sông. Một
khi đã mang cây đinh ba ra bờ sông thì lão đều mang theo chiến lợi phẩm
về, hẻo lắm thì cũng là một con cá lăng chứ ít khi lão về không
lắm?
Con người lão Hoành vốn đã bí hiểm.
Từ ngày vợ lão chết, lão càng bí hiểm hơn. Qua bố tôi, tôi được
biết, lão vốn có hai người con trai. Con cả lão đi lính cho Pháp,
chết trận ở sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc Thu đông năm bốn bẩy.
Sau khi chồng chết, vợ nó cũng bỏ nhà đi đâu biệt tích. Con thứ hai
của lão theo cách mạng, tham gia chiến dịch Điện Biên và hy sinh tại
mặt trận. Từ đó, hai vợ chồng lão rất ít khi xuất hiện trước đông
người.
Thế rồi, một buổi chiều định mệnh đến với lão. Sau đợt
mưa lớn kéo dài, nước sông lên cao, vô số cá theo dòng nước về xuôi.
Đúng lúc đó, vợ lão lại bị cảm nằm bẹp trên giường. Mụ vốn bị
bệnh hen xuyễn nên suốt ngày thở dốc, người còm nhom, gầy tong teo.
Vì ham bắt cá nên lão chỉ kịp đặt nồi cháo cho mụ, dặn mụ nếu đói
thì lấy cháo ăn, ăn xong thì uống thuốc và nghỉ ngơi. Vợ lão vâng dạ
luôn mồm nên lão yên tâm rủ con Vàng đi đón cá. Ai ngờ, vợ lão mò ra
vườn hái tía tô và hành định cho vào cháo để ăn giải cảm. Cũng
chẳng ai ngờ, khi hái rau về, chắc là đói và bị cảm nên mụ ngã
xuống hố nước. Mà đó là cái hố trâu đầm, do mưa kéo dài nên đọng
chút nước, chắc sâu chỉ độ hai gang tay. Khi ngã xuống hố, con Mực cố
kéo mụ lên nhưng không được bèn sủa vang gọi người đến cứu. Khi hết
hy vọng, Mực ta phóng đi tìm lão về. Lúc lão hớt hơ hớt hải chạy
về thì mụ đã an bài… Sau khi học xong Đại học, do tình
hình chiến tranh ở biên giới phía Bắc nên tôi phải nhập ngũ. Khi đó
lão Hoành đã già lắm. Lão vẫn ở một mình ngoài bờ sông, với khu
pháo đài bao bọc bằng trúc “bất khả xâm phạm” của lão. Thi thoảng
về phép, tôi vẫn đến chơi và nói chuyện với lão. Lúc tôi kể về
những vùng núi ở tít biên giới phía bắc mà tôi đã đi qua, lão chăm
chú nghe, thi thoảng lại hỏi về một địa danh nào đó xa lắc, ước ao
được đến vùng đó một lần nữa trong đời rồi lại thở dài ngao ngán...
Đợt nghỉ phép Tết Nguyên đán năm
đó, lão Hoành đã yếu lắm, lão cứ giữ tôi lại tâm sự. Lão bảo: Lão
sống ngần này tuổi rồi, chỉ chiêm nghiệm và đúc kết được ba điều.
Lão nói: Chú là con thầy giáo, học nhiều, biết nhiều, đi nhiều...
Anh mong chú nghe anh một lần, anh có chết cũng không ân hận gì.
Lão Hoành vén tay áo lên chỉ cho
tôi xem vết sẹo lồi ở cẳng tay trái của lão. Lão bảo: Đây là kết
quả của việc lão học người xưa không đến nơi, đến chốn. Lão kể: Đã
lâu lắm rồi, vào một buổi chiều tối, có hai thằng bất hảo, bịt mặt
lẻn vào nhà lão định chôm chỉa. Khi lão phát hiện thì bọn chúng bỏ
chạy. Lúc đó lão vớ được cái néo đập lúa ở hiên nhà làm vũ khí và
đuổi theo, vừa đuổi vừa hô “Đứng lại”. Đuổi đến bãi ngô cuối làng,
cách nhà lão khá xa, thì cả hai thằng đều chạy chậm lại. Khi lão
đuổi kịp thằng chạy sau thì nó đứng lại, vừa thở vừa nói: Cháu
chịu thua bác, cháu xin lỗi bác. Bác bảo sao cháu xin vâng theo…? Lúc
đó lão nghĩ: ông cha ta thường nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người
chạy lại”, thế là lão mất cảnh giác, định tiếp tục đuổi theo tên
chạy trước thì nó đã ở ngay trước mặt lão. Hai tên xông vào tấn công
lão. Tên chạy sau cầm con dao rựa chém lão. Cũng may, lão gạt tay
trái nên đường dao chệch khỏi cổ, nhưng lão bị nhát chém khá sâu.
Bực mình, lão dồn hết sức đánh mạnh đoạn néo vào má trái tên này.
Chắc cú đánh khá mạnh khiến nó phải buông dao ra bưng mặt, lảo đảo
khụy xuống. Tên đi cùng tay cầm đoạn trúc chặt tại nhà lão xông vào
tấn công lão tới tấp. Một phần vì mệt, phần bị mất máu nên lão hoa
mắt, ngã xuống. Cũng may, khi lão ngã xuống ruộng ngô, cánh tay bị
thương đè lên đất phù sa nên cầm được máu. Khi lão tỉnh dậy thì đã
khuya lắm rồi… Những ngày sau đó, lão lùng sục khắp nơi đặng tìm ra
kẻ lừa đảo đã nhẫn tâm chém lão. Lão tin rằng, cú đánh vào má
trái tên trộm kia thế nào cũng để lại dấu ấn trên mặt. Lão hối hận
lắm, lão hối hận vì nhiều lẽ: Vì tin tưởng
vào lời dạy của người xưa, vì tin người, vì lão chậm chạp, không
phản ứng kịp, vì mất cảnh giác, vì… nên lão suýt mất mạng. Lão
bảo tôi: Thế đấy, trong cuộc sống sau này chú phải luôn cảnh giác
với kẻ thù, với bọn bất lương…và nhất là khi học và làm theo những
lời dạy của các bậc tiền nhân thì phải hiểu thấu đáo rồi hãy làm
theo?
Điều thứ hai lão Hoành muốn nói
có liên quan đến con dao găm của lão. Lão kể: Phía hạ lưu con sông,
cách nhà lão khoảng hơn cây số có một con tàu bị đắm. Vào dịp nước
cạn, khoảng cuối tháng giêng, mấy anh em bạn lão lại mở chiến dịch
lặn xuống mò xem có kiếm được cái gì không? Phải bơi lặn giỏi và
can đảm lắm thì mới dám lặn xuống lần sờ xem có thể lấy được gì
không?. Cũng như bọn trẻ trâu chúng tôi vẫn ngậm cọng đu đủ khi lặn,
khi lặn xuống nước, lão Hoành và các bạn lão phải ngậm trong mồm
một đoạn ống nhựa để thở. Cổ tay buộc một đoạn dây thừng để người
trên bờ hỗ trợ khi gặp sự cố. Thường thì người lặn giao phó tính
mạng của mình cho người trên bờ. Thế nhưng, khi lão Hoành lặn xuống
thì người bạn lại bị đau bụng đi ngoài. Thế là hắn buộc ngay đầu
dây sinh mạng của lão vào gốc cây trên bờ để đi giải quyết nỗi buồn.
Cũng rất không may cho lão, khi đang mò tìm dưới đáy sông thì cái dây
sinh mạng của lão vướng vào đá, gỡ mãi không ra. Trong lúc thập tử
nhất sinh, lão chợt nhớ rằng ở bắp chân trái của lão vẫn còn con
dao. Thế là lão cố rút dao găm ra cắt phăng đầu dây sinh tử đang buộc
ở cổ tay lão rồi trồi lên. Từ đó, lão đoạn tuyệt cả người bạn
cũng như nghề lặn mò dưới đáy sông. Chính vì con dao găm đã cứu lão
nên lão coi nó như một người bạn tri kỷ. Lão bảo: Rút kinh nghiệm từ lão, anh nhắc chú, trong cuộc đời, tuyệt
đối không được giao phó sinh mạng của mình cho bất cứ ai.
Điều thứ ba, lão Hoành định nói nhưng
lão bị ho sặc sụa. Lão bảo, thôi khi nào rỗi rãi anh kể tiếp cho
chú…
Thế rồi, tôi vĩnh viễn không còn được
gặp được lão. Khi tôi về phép năm sau, mộ lão đã xanh cỏ. Chị tôi
kể: Lúc lão yếu, lão cứ nhắc mãi là còn nợ cậu một lời khuyên.
Lão cứ bắt chị phải nghe lão nói và khi nào cậu về thì phải kể
lại theo ý lão. Đại thể như sau:
Cô con dâu lão, khi biết tin chồng
chết trận đã bỏ nhà đi. Rồi, vì một món nợ ân tình mà nó gá
nghĩa với một đứa du thủ, du thực. Một hôm, nó buột miệng kể về
mũi giáo hình búp đa của lão. Mũi giáo này lão có được là do một
người bị sét đánh chết ở bờ sông. Lão đào hố chôn tại chỗ và phát
hiện được. Nghe đồn, nếu mà cúng khấn thành tâm, xin hướng xuất hành
rồi quay mũi giáo, khi nó dừng lại, chỉ hướng nào, đi đánh bạc
hướng đó sẽ thắng to. Chính vì lời đồn vô căn cứ đó mà chồng hờ
của con dâu lão rủ một thằng bạn đột nhập vào nhà lão ăn trộm. Đó
lại chính là một trong hai thằng chém lão vào cẳng tay. Thằng đó bị
lão vụt cho một gậy, gẫy cả xương quai hàm. Đó cũng là lý do vì sao,
lão đi tìm khắp nơi nhưng không phát hiện được dấu vết hung thủ…
Khi thằng chồng hờ của nó qua đời,
cô con dâu ân hận, hối cải, quay về xin lão tha thứ. Lúc đó lão mới tỏ
sự việc. Tuy nhiên, lão có thể tha thứ cho người đã chết nhưng nhất
quyết không tha thứ cho cô con dâu cũ, vì nhiều lẽ. Không chỉ vậy, lão
còn mang mũi giáo, vật gây phiền toái cho lão, làm lão suýt mất
mạng ra giữa sông gửi vào kho binh khí của Hà bá. Nhưng vì tiếng tăm
của lão Hoành gắn liền với ngọn giáo nên lão lấy gỗ gọt một mũi
giáo khác, giống như mũi cũ để trưng bày…
Khi đã già yếu, ngẫm nghĩ lại, lão
đánh tiếng để con dâu lão về sống chung, hoặc khi lão qua đời thì về
sống ở phần đất nhà lão để hương khói. Nhưng cô con dâu quá xấu hổ
nên né tránh, không chịu về. Lão đúc kết điều
thứ ba muốn khuyên tôi là: Oán thù, nên cởi, không nên thắt. Có thể
tha thứ được thì nên tha thứ, kẻo sau này lại hối hận…
Thú thực, cho đến tận bây giờ, tôi
mới tạm hiểu ba điều lão Hoành đã dạy tôi, hai điều lão nói trực
tiếp, một điều nhờ người khác nói lại. Tôi chép lại ra đây gửi các
bạn tâm huyết cả đời của một con người để các bạn suy ngẫm.
1 nhận xét:
Suy ngẫm cả đời, đúc rút lại để răn dạy con cháu. Rất hay
Đăng nhận xét