Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

LÃO HOÀNH

      Mấy lời phi lộ
Khi tôi chuẩn bị đăng bài viết, có anh bạn góp ý: Bài của anh đọc cũng được, nhưng hình như lẫn lộn về thời gian và tuổi tác nhân vật. Để tránh lẫn lộn, tôi thông tin về tuổi tác của một số nhân vật để các bạn tham khảo. Cụ thể:
1.      Lão Hoành và vợ tuổi Mậu Thân (1908)
2.      Con trai lão Hoành, người anh tuổi Đinh Mão(1927); người em tuổi Canh Ngọ (1930)
3.      Bố tôi tuổi Canh Tuất (1910)
4.      Tôi tuổi  Đinh Dậu (1957) 
     Nhà lão Hoành ở ngoài bờ sông, đó là cả một thế giới bí hiểm luôn kích thích tính tò mò của bọn trẻ trâu chúng tôi. Rất khó có thể tiếp cận vào bên trong khi chưa được lão cho phép. Muốn vào được nhà lão, trước hết phải vượt qua một hàng rào trúc ken dày đặc xung quanh nhà nếu lão không chống chiếc cổng cũng được ken bằng trúc lên. Bước chân vào lãnh địa nhà lão, đầu tiên ta phải đối mặt với hai con Mực và Vàng. Ban ngày, Mực và Vàng luôn tuần tra, lùng sục khắp nơi. Đêm về, Mực tự giác ra cổng trực bảo vệ vòng ngoài còn Vàng nằm ở hiên nhà bảo vệ chủ. Chướng ngại vật tiếp theo là khoảng gần chục con ngỗng đẻ, khi thấy động là kêu ầm ĩ báo cho chủ biết có người lạ đột nhập. Vượt qua đàn ngỗng, vào đến sân, ta phải đối mặt với một con cò luôn túc trực ở hiên. Bình thường, nó khật khưỡng tuần tra dọc hiên nhà, bắt ruồi, nhặt những hạt cơm rơi, cơm vãi. Khi có người lạ, nó lao ra đứng chặn lại, hùng dũng y chang một người lính thực thụ.       
      Lão Hoành có một kho vũ khí sát thương đáng để bọn tôi bàn luận. Đầu tiên phải kể đến là con dao găm. Đây đích thực là vũ khí cận chiến, bởi vì lão luôn mang theo bên người. Lưỡi dao hình lá lúa, mũi nhọn và rất sắc, dài khoảng hai mươi phân và rất ít khi rút ra khỏi bao da. Cán dao là hai miếng sừng trâu được ốp vào thân dao bằng hai chiếc đinh tán. Sở dĩ tôi biết rõ về con dao găm của lão Hoành là có lý do của nó. Chuyện là thế này: Bố tôi mặc dù kém lão Hoành mấy tuổi, nhưng lại dạy lão trong phong trào Bình dân học vụ, nên lão kính trọng và gọi bố tôi là thày giáo, gọi tôi là chú, xưng anh. Một hôm, tình cờ lão gặp bố con tôi nên khẩn khoản mời vào nhà lão chơi. Lúc bố tôi và lão ngồi uống nước ở hiên thì tôi được thỏa thích xem những vật dụng của lão. Lúc tôi rút lưỡi dao găm ra khỏi vỏ, bố tôi nhìn thấy lưỡi dao găm liền quay mặt đi. Lão Hoành chắc đoán được lý do vì sao nên thu lại con dao găm trên tay tôi và xin lỗi bố tôi. Lão kê mũi dao găm vào miệng cái cối đá rồi lấy con dao rựa chặt phăng mũi nhọn của con dao đi và mài tròn đầu dao lại. Từ đó, con dao găm của lão nhìn đỡ sát khí hơn, thân thiện hơn.
   Vũ khí thứ hai là chiếc nỏ. Thân nỏ bằng gỗ, được đẽo gọt cẩn thận, chỗ rộng nhất của thân có đục lỗ để tra cánh nỏ, phía trên có rãnh dọc thân nỏ để đặt tên, cuối rãnh tên được tạo bậc để gài dây và lẫy nỏ để đẩy dây khi bắn. Cánh nỏ được vót bằng tre, thuôn hai đầu. Dây nỏ nghe đâu được làm từ ruột mèo phơi khô, rất dai và bền. Mũi tên được vót bằng tre, một đầu nhọn, đầu kia cắt bằng, gắn cánh để định hướng. Nghe đồn nỏ của lão Hoành bắn xa trăm thước, chả biết có đúng không?   
    Kho vũ khí của lão Hoành còn một cây giáo, cán giáo bằng tre, đốt ngắn, thẳng và dài khoảng hơn hai mét, mũi giáo được rèn từ sắt, hình búp đa, đầu cũng nhọn hoắt. Nghe đồn cây giáo này lão mang từ miền ngược về, song chưa ai thấy lão sử dụng vào việc gì? Lão Hoành còn một cây đinh ba, cán bằng tre, thuôn đều, dài hơn ba mét. Đinh ba được rèn từ sắt, gồm ba mũi, ghép thành mặt phẳng, cách nhau khoảng phân rưỡi, dài khoảng hơn chục phân. Mũi được rèn từ sắt vuông, có ngạnh, nhọn và sắc. Cây đinh ba này lão chủ yếu dùng để đâm cá ở sông. Một khi đã mang cây đinh ba ra bờ sông thì lão đều mang theo chiến lợi phẩm về, hẻo lắm thì cũng là một con cá lăng chứ ít khi lão về không lắm? 

     Con người lão Hoành vốn đã bí hiểm. Từ ngày vợ lão chết, lão càng bí hiểm hơn. Qua bố tôi, tôi được biết, lão vốn có hai người con trai. Con cả lão đi lính cho Pháp, chết trận ở sông Lô trong chiến dịch Việt Bắc Thu đông năm bốn bẩy. Sau khi chồng chết, vợ nó cũng bỏ nhà đi đâu biệt tích. Con thứ hai của lão theo cách mạng, tham gia chiến dịch Điện Biên và hy sinh tại mặt trận. Từ đó, hai vợ chồng lão rất ít khi xuất hiện trước đông người.
     Thế rồi, một buổi chiều định mệnh đến với lão. Sau đợt mưa lớn kéo dài, nước sông lên cao, vô số cá theo dòng nước về xuôi. Đúng lúc đó, vợ lão lại bị cảm nằm bẹp trên giường. Mụ vốn bị bệnh hen xuyễn nên suốt ngày thở dốc, người còm nhom, gầy tong teo. Vì ham bắt cá nên lão chỉ kịp đặt nồi cháo cho mụ, dặn mụ nếu đói thì lấy cháo ăn, ăn xong thì uống thuốc và nghỉ ngơi. Vợ lão vâng dạ luôn mồm nên lão yên tâm rủ con Vàng đi đón cá. Ai ngờ, vợ lão mò ra vườn hái tía tô và hành định cho vào cháo để ăn giải cảm. Cũng chẳng ai ngờ, khi hái rau về, chắc là đói và bị cảm nên mụ ngã xuống hố nước. Mà đó là cái hố trâu đầm, do mưa kéo dài nên đọng chút nước, chắc sâu chỉ độ hai gang tay. Khi ngã xuống hố, con Mực cố kéo mụ lên nhưng không được bèn sủa vang gọi người đến cứu. Khi hết hy vọng, Mực ta phóng đi tìm lão về. Lúc lão hớt hơ hớt hải chạy về thì mụ đã an bài…      Sau khi học xong Đại học, do tình hình chiến tranh ở biên giới phía Bắc nên tôi phải nhập ngũ. Khi đó lão Hoành đã già lắm. Lão vẫn ở một mình ngoài bờ sông, với khu pháo đài bao bọc bằng trúc “bất khả xâm phạm” của lão. Thi thoảng về phép, tôi vẫn đến chơi và nói chuyện với lão. Lúc tôi kể về những vùng núi ở tít biên giới phía bắc mà tôi đã đi qua, lão chăm chú nghe, thi thoảng lại hỏi về một địa danh nào đó xa lắc, ước ao được đến vùng đó một lần nữa trong đời rồi lại thở dài ngao ngán...   

      Đợt nghỉ phép Tết Nguyên đán năm đó, lão Hoành đã yếu lắm, lão cứ giữ tôi lại tâm sự. Lão bảo: Lão sống ngần này tuổi rồi, chỉ chiêm nghiệm và đúc kết được ba điều. Lão nói: Chú là con thầy giáo, học nhiều, biết nhiều, đi nhiều... Anh mong chú nghe anh một lần, anh có chết cũng không ân hận gì.
       Lão Hoành vén tay áo lên chỉ cho tôi xem vết sẹo lồi ở cẳng tay trái của lão. Lão bảo: Đây là kết quả của việc lão học người xưa không đến nơi, đến chốn. Lão kể: Đã lâu lắm rồi, vào một buổi chiều tối, có hai thằng bất hảo, bịt mặt lẻn vào nhà lão định chôm chỉa. Khi lão phát hiện thì bọn chúng bỏ chạy. Lúc đó lão vớ được cái néo đập lúa ở hiên nhà làm vũ khí và đuổi theo, vừa đuổi vừa hô “Đứng lại”. Đuổi đến bãi ngô cuối làng, cách nhà lão khá xa, thì cả hai thằng đều chạy chậm lại. Khi lão đuổi kịp thằng chạy sau thì nó đứng lại, vừa thở vừa nói: Cháu chịu thua bác, cháu xin lỗi bác. Bác bảo sao cháu xin vâng theo…? Lúc đó lão nghĩ: ông cha ta thường nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người chạy lại”, thế là lão mất cảnh giác, định tiếp tục đuổi theo tên chạy trước thì nó đã ở ngay trước mặt lão. Hai tên xông vào tấn công lão. Tên chạy sau cầm con dao rựa chém lão. Cũng may, lão gạt tay trái nên đường dao chệch khỏi cổ, nhưng lão bị nhát chém khá sâu. Bực mình, lão dồn hết sức đánh mạnh đoạn néo vào má trái tên này. Chắc cú đánh khá mạnh khiến nó phải buông dao ra bưng mặt, lảo đảo khụy xuống. Tên đi cùng tay cầm đoạn trúc chặt tại nhà lão xông vào tấn công lão tới tấp. Một phần vì mệt, phần bị mất máu nên lão hoa mắt, ngã xuống. Cũng may, khi lão ngã xuống ruộng ngô, cánh tay bị thương đè lên đất phù sa nên cầm được máu. Khi lão tỉnh dậy thì đã khuya lắm rồi… Những ngày sau đó, lão lùng sục khắp nơi đặng tìm ra kẻ lừa đảo đã nhẫn tâm chém lão. Lão tin rằng, cú đánh vào má trái tên trộm kia thế nào cũng để lại dấu ấn trên mặt. Lão hối hận lắm, lão hối hận vì nhiều lẽ: Vì tin tưởng vào lời dạy của người xưa, vì tin người, vì lão chậm chạp, không phản ứng kịp, vì mất cảnh giác, vì… nên lão suýt mất mạng. Lão bảo tôi: Thế đấy, trong cuộc sống sau này chú phải luôn cảnh giác với kẻ thù, với bọn bất lương…và nhất là khi học và làm theo những lời dạy của các bậc tiền nhân thì phải hiểu thấu đáo rồi hãy làm theo? 
             
       Điều thứ hai lão Hoành muốn nói có liên quan đến con dao găm của lão. Lão kể: Phía hạ lưu con sông, cách nhà lão khoảng hơn cây số có một con tàu bị đắm. Vào dịp nước cạn, khoảng cuối tháng giêng, mấy anh em bạn lão lại mở chiến dịch lặn xuống mò xem có kiếm được cái gì không? Phải bơi lặn giỏi và can đảm lắm thì mới dám lặn xuống lần sờ xem có thể lấy được gì không?. Cũng như bọn trẻ trâu chúng tôi vẫn ngậm cọng đu đủ khi lặn, khi lặn xuống nước, lão Hoành và các bạn lão phải ngậm trong mồm một đoạn ống nhựa để thở. Cổ tay buộc một đoạn dây thừng để người trên bờ hỗ trợ khi gặp sự cố. Thường thì người lặn giao phó tính mạng của mình cho người trên bờ. Thế nhưng, khi lão Hoành lặn xuống thì người bạn lại bị đau bụng đi ngoài. Thế là hắn buộc ngay đầu dây sinh mạng của lão vào gốc cây trên bờ để đi giải quyết nỗi buồn. Cũng rất không may cho lão, khi đang mò tìm dưới đáy sông thì cái dây sinh mạng của lão vướng vào đá, gỡ mãi không ra. Trong lúc thập tử nhất sinh, lão chợt nhớ rằng ở bắp chân trái của lão vẫn còn con dao. Thế là lão cố rút dao găm ra cắt phăng đầu dây sinh tử đang buộc ở cổ tay lão rồi trồi lên. Từ đó, lão đoạn tuyệt cả người bạn cũng như nghề lặn mò dưới đáy sông. Chính vì con dao găm đã cứu lão nên lão coi nó như một người bạn tri kỷ. Lão bảo: Rút kinh nghiệm từ lão, anh nhắc chú, trong cuộc đời, tuyệt đối không được giao phó sinh mạng của mình cho bất cứ ai.     

      Điều thứ ba, lão Hoành định nói nhưng lão bị ho sặc sụa. Lão bảo, thôi khi nào rỗi rãi anh kể tiếp cho chú…
       Thế rồi, tôi vĩnh viễn không còn được gặp được lão. Khi tôi về phép năm sau, mộ lão đã xanh cỏ. Chị tôi kể: Lúc lão yếu, lão cứ nhắc mãi là còn nợ cậu một lời khuyên. Lão cứ bắt chị phải nghe lão nói và khi nào cậu về thì phải kể lại theo ý lão. Đại thể như sau:   
       Cô con dâu lão, khi biết tin chồng chết trận đã bỏ nhà đi. Rồi, vì một món nợ ân tình mà nó gá nghĩa với một đứa du thủ, du thực. Một hôm, nó buột miệng kể về mũi giáo hình búp đa của lão. Mũi giáo này lão có được là do một người bị sét đánh chết ở bờ sông. Lão đào hố chôn tại chỗ và phát hiện được. Nghe đồn, nếu mà cúng khấn thành tâm, xin hướng xuất hành rồi quay mũi giáo, khi nó dừng lại, chỉ hướng nào, đi đánh bạc hướng đó sẽ thắng to. Chính vì lời đồn vô căn cứ đó mà chồng hờ của con dâu lão rủ một thằng bạn đột nhập vào nhà lão ăn trộm. Đó lại chính là một trong hai thằng chém lão vào cẳng tay. Thằng đó bị lão vụt cho một gậy, gẫy cả xương quai hàm. Đó cũng là lý do vì sao, lão đi tìm khắp nơi nhưng không phát hiện được dấu vết hung thủ…   
       Khi thằng chồng hờ của nó qua đời, cô con dâu ân hận, hối cải, quay về xin lão tha thứ. Lúc đó lão mới tỏ sự việc. Tuy nhiên, lão có thể tha thứ cho người đã chết nhưng nhất quyết không tha thứ cho cô con dâu cũ, vì nhiều lẽ. Không chỉ vậy, lão còn mang mũi giáo, vật gây phiền toái cho lão, làm lão suýt mất mạng ra giữa sông gửi vào kho binh khí của Hà bá. Nhưng vì tiếng tăm của lão Hoành gắn liền với ngọn giáo nên lão lấy gỗ gọt một mũi giáo khác, giống như mũi cũ để trưng bày…   
      Khi đã già yếu, ngẫm nghĩ lại, lão đánh tiếng để con dâu lão về sống chung, hoặc khi lão qua đời thì về sống ở phần đất nhà lão để hương khói. Nhưng cô con dâu quá xấu hổ nên né tránh, không chịu về. Lão đúc kết điều thứ ba muốn khuyên tôi là: Oán thù, nên cởi, không nên thắt. Có thể tha thứ được thì nên tha thứ, kẻo sau này lại hối hận…


      Thú thực, cho đến tận bây giờ, tôi mới tạm hiểu ba điều lão Hoành đã dạy tôi, hai điều lão nói trực tiếp, một điều nhờ người khác nói lại. Tôi chép lại ra đây gửi các bạn tâm huyết cả đời của một con người để các bạn suy ngẫm.  

1 nhận xét:

Unknown nói...

Suy ngẫm cả đời, đúc rút lại để răn dạy con cháu. Rất hay